Phần 1: Rượu Nước Nam trong thơ văn cổ
Media
23/05/2025
Thơ văn thời Nguyễn Du, Nguyễn Khuyến, Tú Xương và các nhà thơ nổi tiếng cuối Lê - đầu Nguyễn thường có nhiều bài viết về rượu, vừa là thú vui, vừa là biểu hiện tâm thế nho sĩ trước thời cuộc. Rượu trong văn chương lúc ấy không chỉ để say, mà để tỉnh – tỉnh về nhân sinh, thế sự, cô đơn hay bất lực trước thời cuộc.
Dưới thời độc quyền rượu của Pháp thuộc 1898, người Pháp đã cấm và "khai tử" hoàn toàn các loại rượu quý truyền thống mà chúng ta bây giờ chỉ biết qua văn thơ cổ:
1. Nguyễn Du – “Truyện Kiều”
Cụ coi uống rượu là một niềm vui của cuộc sống, nên nói tình bạn của Kim - Kiều sau khi đoàn viên, cụ viết:
"Khi chén rượu, khi cuộc cờ
Khi xem hoa nở khi chờ trăng lên"
Trong Truyện Kiều, rượu không đơn thuần là chất men, mà là dòng chảy tâm trạng, khơi dậy bi thương, xót xa, và nhân thế đa đoan.

2. Nguyễn Khuyến – “Uống rượu”
"“Khi buồn chén rượu say không biết
Ngửa mặt lờ mờ ngọn núi xa.”
(Cáo quan về ở nhà)
"Em cũng chẳng no mà chẳng đói,
Thung thăng chiếc lá, rượu lưng bầu."
(Lụt, hỏi thăm bạn)
Trong bài Khóc Dương Khuê:
"Cũng có lúc rượu ngon cùng nhấp,
Chén quỳnh tương ăm áp bầu xuân,
Có khi bàn soạn câu văn,
Biết bao đông bích, điển phần trước sau."
...
"Rượu ngon không có bạn hiền,
Không mua không phải không tiền không mua..."
Và còn có "Thu ẩm" - mùa thu uống rượu. Hình ảnh trung tâm của bài thơ là "Mắt lão không vầy cũng đỏ hoe". Câu thơ đã diễn tả trạng thái ngà ngà say... đến "say nhè": "Rượu tiếng rằng hay hay chả mấy - Độ năm ba chén đã say nhè".
Nguyễn Khuyến chọn rượu nhàn, rượu quê, giữa cảnh thu tàn, cây cối, ao vắng. Ông uống rượu không để say, mà để giữ lại chút thanh cao trong cảnh thế tục nhiễu nhương.

3. Nguyễn Công Trứ – “Uống rượu”
"Còn trời còn nước còn mây
Còn cô bán rượu anh còn say sưa"
4. Trần Tế Xương (Tú Xương) – Thêm một ví dụ châm biếm:
"Một trà, một rượu, một đàn bà,
Ba cái lăng nhăng nó quấy ta.
Chừa được cái nào hay cái nấy,
Có chăng chừa rượu với chừa trà!"
Chất hài hước, giễu nhại, tự trào rất đặc trưng trong Tú Xương khiến rượu không còn là nghi lễ, mà là “lăng nhăng” – nhưng trong đó lại ẩn giấu tâm sự của một kẻ trí thức bất lực giữa thời đại.
Rượu trong thơ các nhà Nho cuối thế kỷ 18–19 không đơn thuần để say. Đó là thái độ sống – khi say để không điên, khi tỉnh để không sầu, khi cười để không khóc. Họ nâng chén rượu như nâng lấy một phần nhân cách – chao đảo nhưng không gục, phiêu lãng nhưng đầy tỉnh thức.

5. Thay lời kết của Nguyễn Bỉnh Khiêm:
"Rượu đến cội cây ta sẽ uống
Nhìn xem phú quý tựa chiêm bao"
Hãy xem các nước xung quanh, Nhật Bổn có Sake, Hàn Quốc có Soju, Trung Quốc có Mao Đài... không lẽ một thời hưng vượng của Việt Nam không có một loại rượu nào bằng, phổ biến nhưng các nước láng giềng?
Xem phần 2 sẽ rõ!
Bài viết khác
